ĐẦU GHI HÌNH KỸ THUẬT SỐ DVR

 

 

 

 

 

DVR viết tắt bởi Digital video Recorder : là thiết bị chia hình và ghi hình camera vào ổ cứng.
Không như các thiết bị VCR(Video Cassette Recorder), DVR có nhiều ưu điểm hơn, cũng có thể hoạt động và quan sát từ xa tại bất cứ nơi nào trên thế giới qua Internet. Một DVR - Thiết bị ghi hình kĩ thuật số, khác với VCD ở những điểm sau:

 

Ngoài khả năng ghi hình và tiếng lên lên ổ cứng máy tính. DVR còn có chức năng ghi lại dữ liệu lên đĩa CD, DVD qua CDR, DVDWR. Do đó:
- Thuận tiện hơn,
- Ghi với thời lượng lâu hơn,
- Chất lượng ghi tốt hơn,
- Hoàn toàn tự động.
Hình ảnh và âm thanh chứa trong DVR : 
- Truy cập nhanh chóng,
- Quan sát và ghi lại tại chỗ hay từ xa qua Internet.
- Cùng một lúc có thể nhiều người quan sát được.
- Có thể dùng trong hệ thống cảnh báo, báo động.

1. PHÂN LOẠI ĐẦU GHI HÌNH DVR

Có 2 loại thiết bị ghi hình là PC base & DVR
PC base là thiết bị ghi hình sử dụng card ghi hình gắn vào máy vi tính

DVR ( Digital Video Recoder ) là đầu ghi hình độc lập được gắn ổ cừng bên trong. 
Đúng như tên gọi, chức năng chủ yếu của DVR là lưu trữ hình ảnh. Mỗi DVR thường có các ổ cứng đi kèm để lưu trữ dữ liệu với dung lượng khá lớn, cỡ 120GB, đủ để lưu trữ trong một khoảng thời gian khá dài. Tín hiệu hình ảnh từ các Camera sẽ được đưa trực tiếp vào DVR, DVR tổng hợp lại, xử lí, và truyền đi qua mạng Internet hoặc truyền trực tiếp lên màn hình theo dõi

2. KHI LỰA CHỌN THIẾT BỊ GHI HÌNH CẦN LƯU Ý CÁC THÔNG SỐ GÌ ?

Khung / Hình trên giây?
Tốc độ ghi hình (frames per second : fps) với 30 khung hình trên giây được gọi là thời gian thực, di chuyển thực. Trong Video thông thường NTSC chỉ là 24 khung hình trên giây. Có khái niệm (fields per second cũng là fps), tuy nhiên 1 farme bằng với 2 field (trường). Do đó 30 (frames per second) bằng với 60 (fields per second). Khái niệm hình trên giây (images per second) cũng tương tự như (fields per second).
Chú ý rằng, chỉ với tốc độ ghi hình 5 hình trên giây, bạn đã thu thập được rất nhiều thông tin rồi. Trong xử lí hình ảnh, với tốc độ ghi hình càng cao, số thông tin cần xử lí càng lớn thì càng tốn nhiều tài nguyên hệ thống. Và cả bộ nhớ lưu trữ cũng cần nhiều hơn. 
Khả năng xử lí hình ảnh cũng tạo nên sự khác nhau về chất lượng cũng như giá thành giữa các DVR.

Lượng dữ liệu?
1 file là một gói dữ liệu. Kích thước file thể hiện có bao nhiêu dữ liệu chứa trong nó. 
Kích thước file ảnh có liên quan đến, độ phân giải (resolution), chuyển động, dạng nén, và các nhân tố khác nữa. Cuối cùng thì file sẽ được chứa trong ổ đĩa cứng của DVR.
Nếu hệ số nén càng cao thì kích thước file càng nhỏ. Khi file càng nhỏ thì tốc độ truyền càng nhanh và tốn ít bộ nhớ để lưu trữ, nhưng hình ảnh lại không rõ nét. 
Công nghệ mới cho phép có nhiều cách để nén được dữ liệu mà vẫn đảm bảo được chất lượng dữ liệu đạt yêu cầu. Một DVR có độ phân giải tốt có khả năng hiển thị, ghi hình và truyền dữ liệu độc lập với nhau. Khi đó bạn vừa có thể ghi hình với chất lượng cao, và vừa có thể truyền dữ liệu, mục đích là không để lỗi mạng và có hình ảnh nét hơn.

Điểm thuận lợi trong các hệ thống DVR là bạn có thể điều khiển độc lập trên từng kênh về: 
- Độ phân giải 
- Tốc độ truyền
- Tốc độ ghi dữ liệu, 
- Tốc độ hiển thị, 
- Phát hiện chuyển động.

Chuẩn nén tín hiệu số?
Nén được thực hiện khi luồng dữ liệu vào được phân tích và loại bỏ bớt những phần dữ liệu không cần thiết. 
Có 3 kiểu nén là : phần cứng và phần mềm. Có cả chức năng nén và giải nén.
Nén là thu gọn lại dữ liệu, truyền, và lưu trữ. Còn giải nén là hiển thị lại dữ liệu đã được ghi.
Khi sử dụng công cụ nén bằng phần cứng thì chỉ mất ít dữ liệu, và tất cả công việc nén được thực hiện hoàn toàn trên mạch phần cứng có chức năng đặc biệt. 
Khi sử dụng công cụ nén bằng phần mềm thì yêu cầu sử dụng tại nguyên máy tính phục vụ chức năng này. 

Chuẩn nén tín hiệu số gồm có các chuẩn sau: 

Chuẩn MJPEG:
Đây là một trong những chuẩn cổ nhất mà hiện nay vẫn sử dụng. MJPEG (Morgan JPEG). Chuẩn này hiện chỉ sử dụng trong các thiết bị DVR rẻ tiền, chất lượng thấp. Không những chất lượng hình ảnh kém, tốn tài nguyên xử lí, cần nhiều dung lượng ổ chứa, và còn hay làm lỗi đường truyền. 

Chuẩn MPEG2:
Chuẩn MPEG là một chuẩn thông dụng. Đã được sử dụng rộng rãi trong hơn một thập kỉ qua. Tuy nhiên, kích thước fle lớn so với những chuẩn mới xuất hiện gần đây, và có thể gây khó khăn cho việc truyền dữ liệu.
Ví dụ như trong MPEG-2, nơi mà nội dung được tạo ra từ nhiều nguồn như video ảnh động, đồ họa, văn bản… và được tổ hợp thành chuỗi các khung hình phẳng, mỗi khung hình (bao gồm các đối tượng như người, đồ vật, âm thanh, nền khung hình…) được chia thành các phần tử ảnh pixels và xử lý đồng thời, giống như cảm nhận của con người thông qua các giác quan trong thực tế. Các pixels này được mã hoá như thể tất cả chúng đều là các phần tử ảnh video ảnh động. Tại phía thu của người sử dụng, quá trình giải mã diễn ra ngược với quá trình mã hoá không khó khăn. Vì vậy có thể coi MPEG-2 là một công cụ hiển thị tĩnh, và nếu một nhà truyền thông truyền phát lại chương trình của một nhà truyền thông khác về một sự kiện, thì logo của nhà sản xuất chương trình này không thể loại bỏ được. Với MPEG-2, bạn có thể bổ xung thêm các phần tử đồ hoạ và văn bản vào chương trình hiển thị cuối cùng (theo phương thức chồng lớp), nhưng không thể xoá bớt các đồ hoạ và văn bản có trong chương trình gốc.

Chuẩn MPEG4:
Mpeg-4 là chuẩn cho các ứng dụng MultiMedia. Mpeg-4 trở thành một tiêu chuẩn cho nén ảnh kỹ thuật truyền hình số, các ứng dụng về đồ hoạ và Video tương tác hai chiều (Games, Videoconferencing) và các ứng dụng Multimedia tương tác hai chiều (World Wide Web hoặc các ứng dụng nhằm phân phát dữ liệu Video như truyền hình cáp, Internet Video...). Mpeg-4 đã trở thành một tiêu chuẩn công nghệ trong quá trình sản xuất, phân phối và truy cập vào các hệ thống Video. Nó đã góp phần giải quyết vấn đề về dung lượng cho các thiết bị lưu trữ, giải quyết vấn đề về băng thông của đường truyền tín hiệu Video hoặc kết hợp cả hai vấn đề trên.
Với MPEG-4, các đối tượng khác nhau trong một khung hình có thể được mô tả, mã hoá và truyền đi một cách riêng biệt đến bộ giải mã trong các dòng cơ bản ES (Elementary Stream) khác nhau. Cũng nhờ xác định, tách và xử lý riêng các đối tượng (như nhạc nền, âm thanh xa gần, đồ vật, đối tượng ảnh video như con người hay động vật, nền khung hình …), nên người sử dụng có thể loại bỏ riêng từng đối tượng khỏi khuôn hình. Sự tổ hợp lại thành khung hình chỉ được thực hiện sau khi giải mã các đối tượng này.

Chuẩn H 2.64
Chuẩn H 2.64AVC, cũng được biết đến như là chuẩn MPEG 10, nổi lên dẫn đầu trong lĩnh vực công nghệ nén hình ảnh. H 2.64 cũng cho chất lượng hình ảnh tốt nhất, kích thước file nhỏ nhất, hổ trợ DVD, và truyền với tốc độ cao so với các chuẩn trước đó.H 2.64 cũng là một chuẩn phức hợp.

Số kênh DVR?
Thông thường DVR có 4 kênh, 08 kênh, 09 kênh, 16 kênh. Mỗi kênh kết nối 01 camera
DVR card thì có 04 kênh, 08 kênh, 16 kênh. Mỗi máy tính thường có 02 đến 03 slot PCI để gắn DVR Card. Vì vậy mỗi PC base có 04 kênh, 08 kênh, 16 kênh, 24 kênh, 32 kênh, 40 kênh , 48 kênh. 

Dung lượng ổ đĩa là bao nhiêu?
Điều này ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng lưu trữ dữ liệu hay thời gian ghi hình của DVR. Dung lượng càng cao thì khả năng lưu dữ liệu càng lớn. Một số DVR cho phép ghép nối thêm ổ cứng để tăng dung lượng chứa, tuy nhiên, số lưọng ổ cho phép ghép thêm cũng chỉ có giới hạn. 
Thời gian ghi hình còn phụ thuộc vào số lượng kênh dữ liệu, vào chất lượng hình ảnh bạn muốn ghi. 
Đơn cử như với loại SK-04 của hãng SKYVIEW, với dung lượng ổ ghi là 240GB, sử dụng ở chế độ ghi NTSC 1hình/giây, chất lưọng hình ảnh BASIC, 16 kênh cùng 1 lúc thì có thể ghi hình liên tục trong vòng 4800h, nghĩa là 200 ngày. 
Nhưng nếu ghi ở chế độ NTSC 15 hình/giây, chất lượng hình ảnh BEST, 16 kênh cùng 1 lúc thì chỉ có thể ghi trong vòng 96h, nghĩa là 4 ngày. 

DVR Có chức năng phát hiện chuyển động không? 
Đây là 1 trong những chức năng đặc biệt của DVR. Ví dụ nhu bạn có1 Camera giám sát tại một khu vực. Bất cứ 1 chuyển động nào xuất hiện trong vùng quan sát sẽ được DVR phát hiện ra nhờ xử lí dữ liệu thu về từ Camera đó. Lúc đó, DVR sẽ tự động ghi lại hình ảnh, hoặc gửi tín hiệu báo động nếu DVR hỗ trợ chức năng đó. Lưu ý là bạn cũng có thể cài đặt vùng phát hiện chuyển động trong khu vực giám sát của Camera, khi đó, chỉ những chuyển động trong khu vực cài đặt mới được phát hiện.

Với khả năng này của DVR thì ngoài chức năng giám sát thông thường của hệ thống Camera, còn có thêm chức năng báo động.